0912 826 096

Các Loại Thuốc Kháng Sinh Nhóm Cyclin - Peptid Và Phổ Kháng Khuẩn Của Chúng

Để tiếp tục tìm hiểu về các loại thuốc kháng sinh. CHúng ta sẽ tìm hiểu về 2 nhóm thuốc kháng sinh Cyclin - Peptid và phổ kháng khuẩn của chúng.

>> Các Loại Thuốc Kháng Sinh Nhóm Lincosamid - Phenicol Và Phổ Kháng Khuẩn Của Chúng
>> Các Loại Thuốc Kháng Sinh Nhóm Aminoglycosid - Macrolid Và Tác Dụng Của Chúng
>> Các Loại Thuốc Kháng Sinh Nhóm Beta-Lactam Và Tác Dụng Của Chúng

KHÁNG SINH NHÓM CYCLIN

Các thuốc nhóm này gồm cả các kháng sinh bán tổng hợp và kháng sinh tự nhiên. Các thuốc thuộc nhóm bao gồm: oxytetracyclin, demeclocyclin, methacyclin, doxycyclin, chlortetracyclin, minocyclin.

Phổ kháng khuẩn

- Các kháng sinh nhóm Cyclin có phổ kháng khuẩn rộng trên cả các vi khuẩn Gram-dương và Gram-âm, cả vi khuẩn kỵ khí và hiếu khí. Thuốc cũng có tác dụng trên các chủng vi khuẩn gây bệnh không điển hình như Coxiella burnetii, Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia spp., Legionella spp., Rickettsia, Ureaplasma,…Ngoài ra, thuốc cũng hiệu quả trên một số xoắn khuẩn như Borrelia burgdorferi (gây bệnh Lyme), Treponema pallidum (giang mai), Borrelia recurrentis, Treponema pertenue.

- Là nhóm kháng sinh được đưa vào điều trị từ rất lâu,. Hiện nay tỷ lệ kháng tetracyclin của vi khuẩn gây bệnh cũng rất cao. Một số cyclin sử dụng sau như minocyclin hay doxycyclin có thể tác dụng được trên 1 số chủng vi khuẩn đã kháng với tetracyclin.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

ADR đặc trưng của nhóm kháng sinh này là gắn mạnh vào xương và răng, gây chậm phát triển ở trẻ em, hỏng răng, biến màu răng; tình trạng này thường gặp với trẻ dưới 8 tuổi hoặc do người mẹ sử dụng thuốc trong thời kỳ mang t2. Tác dụng phụ trên đường tiêu hoá gây kích ứng, đau bụng, buồn nôn, nôn, loét thực quản (nếu bị đọng thuốc tại đây),ỉa chảy… hay gặp khi dùng thuốc bằng đường uống. Độc tính trên thận hoặc trên gan, gây suy thận hoặc viêm gan, ứ mật. Đặc biệt, nếu dùng phối hợp với vitamin A liều cao sẽ làm tăng áp lực nội sọ có thể gặp ở trẻ nhỏ. Mẫn cảm với ánh sáng cũng là tác dụng phụ phải lưu ý tuy hiếm gặp.

KHÁNG SINH NHÓM PEPTID

Cấu trúc hóa học các kháng sinh thuộc nhóm này có là các Peptid. Dùng trong lâm sàng hiện nay có các phân nhóm:

- Lipopeptid (daptomycin)

- Polypetid (polymyxin, colistin)

- Glycopeptid (vancomycin, teicoplanin)

Kháng sinh Glycopeptid

- Hiện nay có 2 kháng sinh glycopeptid đang được sử dụng trên lâm sàng là vancomycin và teicoplanin. Đây là 2 kháng sinh đều có nguồn gốc tự nhiên, có cấu trúc hóa học gần tương tự nhau. 2 kháng sinh này có phổ tác dụng cũng tương tự nhau, chủ yếu trên các chủng vi khuẩn Gram-dương (S. aureus, S. epidermidis, Bacillus spp., Corynebacterium spp…); phần lớn các chủng Actinomyces và Clostridium nhạy cảm với thuốc. Thuốc không có tác dụng trên trực khuẩn Gram-âm và Mycobacteria. Trên lâm sàng, 2 thuốc này chủ yếu được sử dụng trong điều trị S. aureus kháng methicilin.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

+ Vancomycin: tác dụng không mong muốn hay gặp nhất với vancomycin là viêm tĩnh mạch và phản ứng giả dị ứng. Với ADR gây viêm tắc tĩnh mạch, truyền thuốc chậm và pha loãng đúng cách sẽ giảm bớt đáng kể nguy cơ phản ứng này. Phản ứng giả dị ứng do vancomycin có khả năng gây độc trực tiếp trên tế bào mast, dẫn đến giải phóng ồ ạt histamin, dẫn đến các biểu hiện như ban đỏ dữ dội: hội chứng cổ đỏ (red-neck) hay người đỏ (red-man), tụt huyết áp, đau và co thắt cơ. ADR khác cũng cần lưu ý với vancomycin là độc tính trên tai và trên thận, thường liên quan với tăng quá mức nồng độ thuốc trong máu. Ngoài ra thuốc có thể gây ADR là biểu hiện của quá mẫn như phản ứng phản vệ, sốt, rét run, chóng mặt…
+ Teicoplanin: tác dụng không mong muốn chính của thuốc là ban da, thường gặp hơn khi dùng với liều cao. ADR khác bao gồm phản ứng quá mẫn, sốt, giảm bạch cầu trung tính… Thuốc cũng có độc tính trên tai nhưng hiếm gặp.

Kháng sinh Polypeptid

- Các kháng sinh được sử dụng trên lâm sàng thuộc nhóm này bao gồm polymyxin B (hỗn hợp của polymyxin B1 và B2) và colistin (hay còn gọi là polymyxin E). Các kháng sinh này đều có nguồn gốc tự nhiên, có cấu trúc phân tử đa peptid, với trọng lượng phân tử lên đến khoảng 1000 dalton. Phổ tác dụng của 2 thuốc này tương tự nhau, chỉ tập trung trên trực khuẩn Gram-âm, bao gồm Salmonella, Pasteurella, Bordetella, Enterobacter, E. coli, Klebsiella, và Shigella. Thuốc cũng có tác dụng trên phần lớn các chủng P.aeruginosa, Acinetobacter.

- Các thuốc nhóm này có độc tính cao, đặc biệt là độc tính trên thận, vì vậy hiện nay polymyxin chỉ dùng ngoài, còn colistin chỉ có chỉ định hạn chế trong 1 số trường hợp vi khuẩn Gram-âm đa kháng, khi không dùng được các kháng sinh khác an toàn hơn.

- Tác dụng không mong muốn (ADR): Các thuốc nhóm polypeptid không được hấp thu nếu dùng ngoài trên da và niêm mạc nguyên vẹn, vì vậy không gây ADR toàn thân. Tuy nhiên, thuốc vẫn có thể gây một số ADR dạng quá mẫn khi dùng tại chỗ. Khi dùng đường tiêm, thuốc gây ức chế dẫn truyền thần kinh cơ, với các biểu hiện như yếu cơ hoặc nguy hiểm hơn là ngừng thở. Các ADR khác trên thần kinh khác bao gồm dị cảm, chóng mặt, nói lắp. Các thuốc nhóm này đều rất độc với thận, cần giám sát chặt chẽ, cố gắng tránh dùng cùng với các thuốc độc thận khác như kháng sinh aminoglycosid.

Kháng sinh Lipopeptid

  • Kháng sinh nhóm này được sử dụng trên lâm sàng là daptomycin, đây là dạng kháng sinh tự nhiên chiết xuất từ môi trường nuôi cấy Streptomyces roseosporus.
  • Phổ kháng khuẩn: thuốc có tác dụng trên vi khuẩn Gram-dương hiếu khí và kỵ khí như staphylococci, streptococci, Enterococcus, Corynebacterium spp., Peptostreptococcus, Propionibacteria, Clostridium perfringens…Đặc biệt, thuốc có tác dụng trên các chủng vi khuẩn kháng vancomycin, tuy nhiên MIC trong các trường hợp này cao hơn so với trên các chủng nhạy cảm với vancomycin.
  • Tác dụng không mong muốn (ADR): ADR cơ bản của thuốc này là gây tổn thương trên hệ cơ xương. Đã có báo cáo về các trường hợp tiêu cơ vân, tuy hiếm gặp. Tăng Creatin kinase (CK) có thể xảy ra, nhưng nếu tăng CK đơn thuần thường không cần dừng thuốc, trừ khi tăng CK kèm theo các biểu hiện khác của bệnh lý cơ. Trong thử nghiệm lâm sàng pha 1 và pha 2, đã ghi nhận một vài trường hợp có biểu hiện của bệnh lý thần kinh cơ, tuy nhiên không gặp ADR này trong thử nghiệm lâm sàng pha 3.

Tổng hợp: http://caodangduoc.com.vn/

http://www.caodangduochanoi.edu.vn/
Hỗ trợ trực tuyến 24/07

024 6688 6651

0912 826 096

Facebook chúng tôi
Sơ đồ đường đi